NGHĨA-THÔ, NGHĨA-KHÉO VÀ CHUYỆN THÊU DỆT.
Về mặt văn phạm, nghĩa thô (denotation) của một từ là bất thứ gì từ đó trực tiếp qui về, một cách đại khái, tương đương với định nghĩa từ vựng của nó. Vì thế, từ “người-vô-thần” (atheist) hàm ý một người không tin hay phủ nhận sự tồn tại của các vị thần. Nghĩa khéo (connotation) của một từ qui về bất cứ sắc thái tinh tế nào có thể hoặc không thể theo ý đồ của người sử dụng. Ví dụ, khả năng nghĩa khéo của từ “người-vô-thần” có thể là một người nào đó xấu xa và độc ác, tin tưởng vào ai nói hoặc nghe điều đó.
Một từ cụ thể, ngoài nghĩa “đen” của nó (nghĩa thô) còn có thể có nghĩa khéo nữa: chẳng hạn, nghĩa khéo về giới tính. Nghệ sĩ hài Kenneth Williams châm biếm: “ Có cái gì đó có thể gọi là văng tục không (single entendre)?” (ai cũng biết “một vật là dương tượng nếu nó dài hơn bề rộng của nó”, như diễn đạt của ca sĩ Melanie). Trong dấu hiệu học, nghĩa thô và nghĩa khéo là những thuật ngữ mô tả quan hệ giữa kí hiệu và thụ hiệu, và tương phản phân tích được thực hiện giữa hai loại được kí hiệu: một thụ hiệu theo nghĩa thô và một thụ hiệu theo nghĩa khéo. Ý nghĩa thì bao gồm cả nghĩa thô lẫn nghĩa khéo.
“Nghĩa thô” có xu hướng được mô tả như nghĩa theo định nghĩa, “nghĩa đen”, “rõ ràng” hoặc “thường thức”của dấu hiệu. Trong trường hợp ngữ hiệu, nghĩa thô là những gì từ điển cố gắng cung cấp. Đối với nhà lịch sử nghệ thuật Erwin Panofsky, nghĩa thô của một biểu đạt hình ảnh thị giác là điều mà mọi người quan sát từ bất cứ nền văn hóa nào và ở bất cứ thời đại nào nhận biết hình ảnh đó như mô tả (Panofsky 1970a, 51-3). Thậm chí định nghĩa như thế nêu bật những vấn đề - tất thảy những người quan sát? Người ta nghi ngờ rằng điều này loại trừ chính những trẻ em và những người được xem như mất trí, chẳng hạn thế. Nhưng nếu nó thực sự có nghĩa như “sự điều chỉnh tốt về văn hóa” (culturally well-adjusted), thì hẳn nó là chi tiết văn hóa (culture-specific), nó đưa chúng ta đến lãnh địa nghĩa-khéo. Thuật ngữ “nghĩa khéo” được sử dụng để qui về xã hội-văn hóa và những kết hợp “cá nhân” (ý thức hệ, xúc cảm, vv) của dấu hiệu. Có mối liên hệ điển hình với loại, tuổi, giới, dân tộc, vv của người diễn giải. Các dấu hiệu “đa-nửa” (polysemic) hơn – mở rộng hơn cho việc diễn giải – với nghĩa thô và nghĩa khéo của chúng. Nghĩa thô đôi khi được xem như mã dạng số (digital code) và nghĩa khéo như mã tương tự (analogue code) (Wilden 1987, 224).
Như Roland Barthes lưu ý, mô hình dấu hiệu Saussure tập trung vào nghĩa thô, nó lấn át nghĩa khéo và di lưu lại cho những nhà lý thuyết đi sau (đặc biệt nhất là Barthes) nhằm đề nghị điều khoản cho chiều kích quan trọng về nghĩa này (Barthes 1967, 89ff). Trong cuốn “Thông điệp ảnh chụp” (Photographic message) và cuốn “Tu từ của hình ảnh” (The Rhetoric of the Image – 1964), Barthes lý luận rằng nghĩa khéo của ảnh chụp có thể (theo phân tích) phân biệt với nghĩa thô (Barthes 1977, 15-31, 32-51). Khi Fiske lại diễn giải “nghĩa thô là điều được chụp, nghĩa khéo là nó được chụp như thế nào” (Fiske 1982, 91). Tuy nhiên, trong nhiếp ảnh, nghĩa thô là nổi bật và lấn lướt nghĩa khéo. Kí hiệu nhiếp ảnh dường như đồng nhất với thụ hiệu, và nhiếp ảnh hóa ra là một “dấu hiệu tự nhiên” (natural sign) được sản xuất mà không cần đến việc phải phát minh một loại mật mã nào (Hall 1980, 132). Barthes lúc đầu lý luận rằng chỉ ở mức cao hơn mức “nghĩa đen”của nghĩa thô thì một mật mã mới có thể được nhận biết – tức nghĩa khéo (ta sẽ trở lại khoản này khi thảo luận về mật mã). Khoảng năm 1973 Barthes đã thay đổi lập trường về điều khoản này. Trong phân tích nguyên bản văn chương hiện thực, Barthes đã đi đến kết luận rằng “nghĩa thô không phải là nghĩa đầu tiên, nhưng có vẻ là như thế, với ảo tưởng này, rốt cuộc nó cũng không hơn gì cái khuôn giày (the last) của nghĩa khéo (cái mà dường như vừa thiết lập, vừa khép lại việc đọc), truyền thuyết bậc cao mà qua đó văn bản dường như trở về với bản chất ngôn ngữ, với ngôn ngữ như tự nhiên” (Barthes 1974, 9). Nghĩa khéo, tóm lại, sản sinh những ảo tưởng về nghĩa thô, ảo tưởng ngôn ngữ như điều hiển nhiên và kí hiệu cùng với thụ hiệu là đồng nhất. Vì thế nghĩa thô chỉ là một dạng nghĩa khéo. Từ một nghĩa thô phối cảnh như thế có thể hiểu nó chẳng có chút gì “tự nhiên” hơn nghĩa khéo, mà chỉ là một quá trình tự nhiên hóa (naturalization). Như quá trình dẫn đến ảo tưởng mạnh mẽ rằng nghĩa thô thuẩn túy là nghĩa đen hay nghĩa phổ quát mà chẳng có chút ý thức hệ nào, và quả thực nghĩa khéo có vẻ hiển nhiên nhất đối với những cá nhân diễn giải mới đúng thực là “tự nhiên”. Theo một quyển sách của Althusser, khi chúng ta mới biết nghĩa thô, chúng ta cũng bị định vị trong phạm vi ý thức hệ bằng cách đồng thời biết đến nghĩa khéo chi phối nó (Silverman 1983, 30).
Vì thế cho nên, trong khi các nhà lý thuyết có thể nhận thấy nó hữu ích trong phân tích để phân biệt nghĩa khéo với nghĩa thô, trong thực tế thì những nghĩa như thế không thể phân chia một cách gãy gọn. Hầu hết các nhà dấu hiệu học lý luận rằng không có dấu hiệu thuần túy nghĩa khéo, không chút nghĩa thô. Valentin Voloshinov khăng khăng rằng không có phân chia nghiêm ngặt giữa nghĩa thô và nghĩa khéo, vì “nghĩa tham chiếu được đúc kết một cách ước lượng…nghĩa luôn được thẩm thấu cùng việc đánh giá về giá trị của nó” (Voloshinov 1973, 105). Không thể có mô tả trung hòa, khách quan chỉ gồm toàn những yếu tố ước lượng. David Mick và Laura Politi lưu ý việc chọn lựa không nhằm phân biệt nghĩa thô, và nghĩa khéo được liên kết với việc lĩnh hội và diễn giải có liên quan, như tính chất không thể phân chia vậy (Mick & Politi 1989, 85).
Đối với hầu hết các nhà dấu hiệu học thì cả nghĩa thô và nghĩa khéo đều bao gồm việc sử dụng mật mã. Các nhà dấu hiệu học cấu trúc, những người nhấn mạnh tính võ đoán tương đối của kí hiệu và các nhà dầu hiệu học xã hội, những người nhấn mạnh tính đa dạng của việc diễn giải và tầm quan trọng văn hóa cũng như ngữ cảnh lịch sử khó có thể chấp nhận ý niệm về một nghĩa “đen”. Nghĩa thô đơn giản có được sự nhất trí rộng hơn. Nghĩa thô của một dấu hiệu được thỏa thuận có điều kiện của các thành viên cùng một nền văn hóa, trong bất kỳ ví dụ cá biệt nào thì chỉ một phạm vi giới hạn những nghĩa khéo mới có nghĩa. Các nghĩa khéo không thuần túy là nghĩa “riêng tư” – chúng được quyết định bằng mật mã mà người diễn giải có cách tiếp cận. Mật mã văn hóa cung cấp một cơ cấu nghĩa khéo vì chúng là “những biểu thức và đối lập then chốt được tổ chức xung quanh”, mỗi thuật ngữ được “sắp thành cụm những thuộc ngữ mang tính biểu tượng” (Silverman 1983, 36). Những nghĩa khéo xác định được nhận biết rộng rãi trong phạm vi một nền văn hóa. Hầu hết người trưởng thành trong văn hóa phương Tây hiểu rằng một chiếc xe có thể có nghĩa khéo nam tính hoặc tự do.
Trong đoạn trích từ tiểu luận “Tu từ của hình ảnh” (Rhetoric of Image), Roland Barthes chứng minh nét tinh tế và khả năng của nghĩa khéo trong ngữ cảnh quảng cáo:
"Đây là chương trình quảng cáo của Panzani: những gói mì ống, một chiếc hộp, các gói nhỏ, vài quả cà chua, hành, tiêu, một cái nấm, tất thảy bày ra trong một chiếc túi lưới nửa mở, vàng và xanh trên nền đỏ. Chúng ta hãy thử “hớt” những thông điệp khác biệt của nó.
Hình ảnh trên lập tức gửi thông điệp đầu tiên, bản chất vật chất của nó là ngôn ngữ học, hỗ trợ bởi phần chú thích ở ngoài lề, và nhãn mác, được lồng vào bố trí tự nhiên của phông cảnh, “một trung tâm” (un abyme). Mật mã mà từ đó thông điệp này được gửi đi không ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Pháp, tri thức duy nhất cần để giải mã chính là tri thức về viết và tiếng Pháp. Quả thật, chính thông điệp này có thể được chia nhỏ hơn nửa, vì dấu hiệu Panzani không chỉ đơn giản là tên của chính hãng, mà bằng sự trùng âm, một cái được kí hiệu bổ sung, “tiếng của các thành phố Ý” (Italianicity). Thông điệp ngôn ngữ học vì thế gồm hai lớp (ít nhất trong hình ảnh cụ thể này): nghĩa thô và nghĩa khéo. Tuy nhiên, vì rằng ở đây chúng ta chỉ có một dấu hiệu đơn tiêu biểu, ấy là ngôn ngữ được nói (được viết), nó sẽ được xem như một thông điệp duy nhất.
Đặt thông điệp ngôn ngữ qua một bên, chúng ta còn lại với hình ảnh thuần túy (rách việc chút có thể xem các nhãn là một phần của nó). Hình ảnh thẳng tắp này cung cấp một chuỗi dấu hiệu gián đoạn. Trước hết (trật tự đó không quan trọng vì những dấu hiệu này không tuyến tính), ý tưởng về điều chúng ta có trong phông cảnh được biểu đạt là sự trả lại của thị trường. Cái được kí hiệu chính nó hàm ý hai giá trị trôi nổi: một về tính chất tươi mới của sản phẩm và một về chủ đích dành cho thị trường nội địa của họ. Kí hiệu của nó là chiếc túi nửa mở để sản phẩm tràn khắp chiếc bàn, “chưa đóng gói”. Để đọc dấu hiệu đầu tiên này chỉ cần tri thức mà trong một chừng mực nào đó đã in tập quán của chính nền văn hóa đại chúng nơi “mua sắm cho chính mình”, đối chọi với việc vội vã cất vào kho (đóng hộp, đông lạnh) của nền văn minh “cơ giới” hơn. Dấu hiệu thứ hai rõ ràng ít nhiều mang tính tương tự, kí hiệu của nó bao gộp cà chua, tiêu và áp phich ba màu (vàng, xanh lá, đỏ), được kí hiệu của nó là nước Ý, hay đúng hơn, các thành phố Ý. Dấu hiệu này nằm trong quan hệ dư thừa với dấu hiệu nghĩa khéo của thông điệp ngữ học (sự trùng âm trong tiếng Ý với cái tên “Panzani”) và tri thức rút được từ nó đã trở nên ngoại lệ hơn, là tri thức “Pháp” một cách cụ thể (một người Ý chỉ hiểu được nghĩa khéo của cái tên, chắc chắn không hơn việc anh ta vẫn là người thành phố Ý với cà chua và tiêu) cơ bản dựa trên sự thân thuộc với những khuôn mẫu du lịch nào đó.Tiếp tục thám sát hình ảnh (không có nghĩa là nó hoàn toàn sáng sủa khi mới nhìn qua), không có khó khăn trong việc khám phá ít nhất hai dấu hiệu khác: dấu thứ nhất, chuỗi tập hợp các đối tượng khác biệt truyền tải ý tưởng về dịch vụ bếp núc toàn diện, một mặt, dường như Panzani cung cấp mọi thứ cần thiết cho một món ăn được cân nhắc cẩn thận, và mặt khác, dường như việc tập trung vào đồ hộp là tương đương với sản phẩm tự nhiên xung quanh nó. Về dấu hiệu kia, thành phần của hình ảnh gợi lên kí ức về vô số bức tranh dinh dưỡng, gửi cho chúng ta thụ hiệu thẩm mỹ: “cái chết tự nhiên” (nature morte) hoặc, là chính nó được nhấn mạnh hơn trong ngôn ngữ khác, là “cuộc sống tĩnh lặng” (still life), tri thức mà kí hiệu này phụ thuộc vào mang nặng tính văn hóa (Barthes 1977, 33).
Nghĩa khéo và nghĩa thô thường được mô tả dưới dạng các mức biểu đạt hay mức nghĩa. Roland Barthes tiếp nhận ý niệm của Louis Hjemslev, rằng có những trật tự tạo nghĩa khác nhau (Barthes 1957; Hjelmslev 1961, 114ff). Trật tự tạo nghĩa thứ nhất thuộc về nghĩa thô: tại mức này có một dấu hiệu chứa đựng cả kí hiệu lẫn thụ hiệu. Nghĩa khéo là trật tự tạo nghĩa thứ hai, sử dụng dấu hiệu nghĩa thô (kí hiệu và thụ hiệu) như kí hiệu của nó và dán vào đó thụ hiệu bổ sung. Trong cơ cấu này nghĩa khéo là dấu hiệu chuyển hóa từ kí hiệu của một dấu hiệu nghĩa thô (vì thế nghĩa thô dẫn đến một chuỗi nghĩa khéo). Xu hướng này gợi ý rằng nghĩa thô là một lớp nghĩa dưới và cơ bản – một ý niệm mà nhiều nhà bình luận khác không thừa nhận. Chính Barthes sau đó đã ưu tiên nghĩa khéo, vào năm 1971 ông lưu ý rằng không dễ dàng chút nào trong việc phân chia kí hiệu với thụ hiệu, hay tính ý thức hệ từ “nghĩa đen” (Barthes 1977, 166). Nhân tiện, chúng ta lưu ý rằng hệ thức này nhấn mạnh điểm “cái gì được xem là một dấu-hiệu (sign) hoặc thụ-hiệu (signified) phụ thuộc hoàn toàn vào mức mà tại đó việc phân tích có tác dụng: thụ-hiệu ở một mức có thể trở thành kí-hiệu ở một mức khác” (Willemen 1994, 105). Đây là cơ cấu mà dấu hiệu có thể biểu thị một vật nhưng được nạp nhiều nghĩa.
Thay đổi hình thức kí hiệu trong khi giữ cùng một thụ hiệu có thể sản sinh nhiều nghĩa khéo khác nhau. Thay đổi phong cách hay tông có thể bao gồm luôn những nghĩa khéo khác nhau, như khi sử dụng các kiểu chữ khác nhau một cách chính xác cho cùng một văn bản, hoặc thay đổi từ tập trung sắc nét sang tập trung dịu khi chụp ảnh. Việc chọn lựa từ thường bao gồm các nghĩa khéo, như trong tham chiếu giữa “võ” vs “văn”, “yêu cầu liên minh” vs “đề nghị quản lý”, vv. Các phép tu từ (tropes) như ẩn dụ sản sinh các nghĩa khéo.
Nghĩa khéo không thuần túy là chiều kích hệ biến hóa, như mô tả của Saussure, gợi ý xem chiều kích hệ biến hóa như là “sự kết hợp”. Trong khi kí hiệu vắng mặt kết hợp với nó rõ ràng là yếu tố then chốt trong việc sản sinh nghĩa khéo, vì thế, sự kết hợp hệ biến hóa cũng thế. Các nghĩa khéo của một kí hiệu liên kết một phần với các kí hiệu khác và cùng nảy sinh trong phạm vi một văn bản riêng biệt. Tuy nhiên, qui về nghĩa khéo một cách toàn bộ về mặt hệ biến hóa và ngữ đoạn sẽ hạn chế ta trong phạm vi hệ ngôn ngữ, và nghĩa khéo thực sự là vấn đề ngôn ngữ được sử dụng như thế nào. Một điều khoản thuần túy cấu trúc luận cũng giới hạn chúng ta trong phối cảnh đồng đại và cả nghĩa khéo lẫn nghĩa thô không chỉ là chủ đề về biến thiên xã hội-văn hóa mà còn là những nhân tố lịch sử: chúng thay đổi theo thời gian. Các dấu hiệu qui về các nhóm bị tước quyền (như “phụ nữ” chẳng hạn) có thể hiểu như là những nghĩa thô cũng như nghĩa khéo mang tính phủ định, hơn nhiều so với điều họ đang làm, vì cơ cấu của họ trong phạm vi và bộ luật chi phối và thẩm quyền (dominant and authoritative codes) trong thời đại của họ - gồm luôn bộ luật khoa học “khách quan” một cách giả định. Fiske cảnh báo rằng “thường quá dễ để đoán nhận các giả trị nghĩa khéo như các sự kiện nghĩa thô” (Fiske 1982, 92).Tuy nhiên, cám dỗ nguy hiểm là xu hướng chấp nhận nghĩa thô như “nghĩa đen”, “tự-chứng”, hay “sự thật”. Phân tích dấu hiệu học có thể giúp chúng ta chống lại tập quán suy nghĩ đó.
Trong khi phương pháp luận thống trị trong phân tích dấu hiệu học là định tính, các nhà dấu hiệu học lại không xung khắc với việc sử dụng kỹ thuật định lượng. Năm 1957 nhà tâm lý học Charles Osgood cùng vài đồng nghiệp xuất bản cuốn “Phép đo ý nghĩa” (Osgood et al. 1957). Trong đó những nghiên cứu về truyền đạt đã phác họa một kỹ thuật gọi là “vi biệt ngữ nghĩa” (semantic differential) trong giản đồ hệ thống nghĩa khéo (hoặc “nghĩa cảm xúc”). Kỹ thuật này bao gồm việc thử với bút-và-giấy, trong đó một số người được yêu cầu ghi lại ấn tượng của họ về một đối tượng, tình trạng hay sự kiện đặc biệt bằng cách chỉ ra những vị trí cụ thể liên quan đến ít nhất chín cặp tính từ lưỡng cực từ mức một đến mức bảy. Mục đích là định vị một khái niệm trong “không gian ngữ nghĩa” với 3 chiều kích: định giá (vd:tốt/xấu), hiệu lực (vd: mạnh/yếu) và tích cực(vd: chủ-động/bị-động). Phương pháp này đã chứng tỏ hữu ích trong nghiên cứu thái độ (attitudes) và phản ứng tình cảm (emotional reactions). Phương pháp này đã được sử dụng, chẳng hạn, để so sánh giữa các nhóm văn hóa khác nhau. Trong khi đó, kỹ thuật này cũng đã được sử dụng khá rộng rãi trong khoa học xã hội, thường không phải bởi những nhà dấu hiệu học (bao gồm “nhà khoa học về nghĩa khéo” tự phong, Roland Barthes), mặc dù các đối lập nhị phân đều đặn cung cấp những tấm lợp (building-block) lý thuyết cho những nhà dấu hiệu học cấu trúc.
Điều Roland Barthes qui về chuyện thần thoại liên quan đến nghĩa khéo. Chúng ta thường kết hợp chuyện thần thoại với truyền thuyết cổ về các kỳ tích của các vị thần và anh hùng. Nhưng đối với Barthes chuyện thần thoại là ý thức hệ chi phối thời đại chúng ta. Xuất phát từ mô hình Hjelmslev, Barthes lý luận rằng trật tự tạo nghĩa được gọi là nghĩa thô và nghĩa khéo phối hợp để sinh ra hệ ý thức – mà nó được mô tả (dù không phải của Barthes) như trật tự tạo nghĩa thứ ba (Fiske & Hartley 1978, 43; O'Sullivan et al. 1994, 287). Với ví dụ nổi tiếng trong tiểu luận “Thần thoại ngày nay” (trong “Thần thoại học”), Barthes đã minh họa khái niệm thần thoại này:
Tôi đang đứng trước hiệu cắt tóc, họ đưa tôi một bản sao của tờ tuần san Paris. Trên bìa, một thanh niên Da đen* trong đồng phục Pháp đang chào, với đôi mắt ngước lên, chắc là dán mắt vào nếp gấp lá cờ tam tài. Tất thảy những điều này là ý nghĩa của bức ảnh. Nhưng tôi thấy rất chính đáng, dù ngây thơ hay không, với những gì có nghĩa với tôi: rằng nước Pháp là một Đế quốc vĩ đại, rằng tất thảy những đứa con của người, không phân biệt màu da, trung thành phụng sự dưới cờ của người, và không có câu trả lời nào cho những kẻ phỉ báng cái gọi là chủ nghĩa thực dân tốt hơn lòng nhiệt tình mà người thanh niên này chứng tỏ trong việc phụng sự cái gọi là kẻ áp bức của mình. Vì thế tôi lại đối mặt với hệ thống dấu hiệu học rộng lớn hơn: có loại kí hiệu, tự nó đã hình thành trong hệ thống trước đó (một người lính Da đen đang chào nước Pháp), có cái được kí hiệu (ở đây là sự pha trộn có mục đích giữa tính Pháp và tính quân sự), sau cùng là sự hiện diện của cái được kí hiệu qua kí hiệu. Trong thần thoại (và đây là nét riêng biệt đặc biệt quan trọng của kí hiệu), kí hiệu đã được hình thành bằng các dấu hiệu ngôn ngữ học…Thần thoại quả thật có chức năng đôi: nó chỉ ra và loan báo, nó chỉ dẫn chúng ta hiểu một điều gì đó và nó áp đặt điều đó lên chúng ta…
Ta phải đặt tiểu sử của người thanh niên châu Phi trong ngoặc đơn nếu muốn phổ biến bức ảnh, và chuẩn bị nhận cái được kí hiệu của nó…Hình thức không đàn áp nội dung, nó chỉ bần cùng hóa, xa rời nội dung…Đây chính là trò chơi giấu-và-tìm bất tận giữa nghĩa và hình thức nhằm xác định thần thoại. Hình thức của thần thoại không phải là một biểu tượng: người thanh niên châu Phi đang chào không phải là biểu tượng của Đế quốc Pháp: dáng vóc anh ta nổi bật quá, anh ta xuất hiện trong một hình ảnh giàu có, dạn dày, thanh thoát, ngây ngô, tất yếu. Nhưng đồng thời sự hiện diện này cũng được luyện thuần thục, giữ khoảng cách nhất định, làm như hiển nhiên, nếu lùi lại một chút nó sẽ trở nên đồng nhất với khái niệm được vũ trang tận răng, quyền lực đế quốc Pháp…
Thần thoại…được định nghĩa bởi mục đích của nó …khác xa với ý thức phàm tục…Bất chấp điều này, mục đích của nó bằng cách nào đó bị đóng băng, được tinh lọc, vĩnh cửu hóa, bị che lấp bởi chính ý thức phàm tục của nó (Đế quốc Pháp? Đó chỉ là một sự kiện: hãy nhìn người thanh niên Da đen hiền lành đang chào như một trong những chàng trai của chúng ta). Những nhập nhằng thành phần này…có hai hậu quả đối với tạo nghĩa mà từ nay trở đi nó xuất hiện vừa như sự khai báo vừa như một tuyên ngôn sự kiện…Quyền lực đế quốc Pháp kết án người thanh niên Da đen đang chào chẳng là gì hơn một kí hiệu phương tiện, người thanh niên Da đen bất chợt chào tôi dưới danh nghĩa quyền lực đế quốc Pháp, nhưng đồng thời cái chào phức hợp của người thanh niên, trở nên bị tráng men, bị đóng băng trong một tham chiếu vĩnh viễn mang ý nghĩa thiết lập quyền lực đế quốc Pháp…
Chúng ta đạt đến chính nguyên lý thần thoại ở đây: nó biến đổi lịch sử thành tự nhiên…Trong trường hợp người lính Da đen…Điều bị giũ bỏ hẳn không phải là quyền lực đế quốc Pháp (trái lại, vì những gì phải trở nên hiện thực là sự hiện diện của nó), nó mang tính ngẫu nhiên, lịch sử, có trong cùng một từ: “được-bịa-đặt” (frabricated), phẩm chất của chủ nghĩa thực dân. Thần thoại không phủ định các sự việc, trái lại, chức năng của nó là nói về chúng, một cách đơn giản, nó sàng lọc chúng, làm chúng chất phác hơn, nó truyền cho chúng sự biện hộ tự nhiên và vĩnh viễn, nó trao cho chúng sự trong trẻo không mang tính thanh minh mà mang tính tuyên ngôn sự thật. Nếu tôi tuyên ngôn sự thật về quyền lực đế quốc Pháp mà không thanh minh về nó, tôi sẽ rất gần với việc tìm kiếm điều tự nhiên và hiển nhiên khỏi cần nói: tôi được tái đảm bảo. Trong quá trình đi từ lịch sử đến tự nhiên, thần thoại hành động một cách kinh tế: nó hủy bỏ sự phức tạp trong hành vi con người, nó trao cho họ sự mộc mạc bản chất, nó luôn song hành với mọi phép biện chứng, với bất cứ việc quay trở lại nào từ bên ngoài những gì trực tiếp nhìn thấy, nó tổ chức một thế giới không có mâu thuẫn …Sự vật xuất hiện có ý nghĩa nào đó bởi chính nó…
* Thuật ngữ của bản tiếng Anh – không phải chọn lựa của Barthes.
(Barthes 1987).
Các dấu hiệu và mật mã được sản sinh qua thần thoại và lần lượt phục vụ việc duy trì chúng. Thường dụng của thuật ngữ “thần thoại” gợi ý rằng nó qui về những đức tin được chứng minh là sai, nhưng việc sử dụng về mặt dấu hiệu của thuật ngữ này không nhất thiết gợi ý điều đó. Thần thoại có thể được xem như các phép ẩn dụ mở rộng. Cũng như ẩn dụ, thần thoại giúp chúng ta có ý thức về những kinh nghiệm của mình trong nền văn hóa (Lakoff & Johnson 1980, 185-6). Chúng biểu lộ và phục vụ tổ chức những cách thức được chia sẻ trong việc khái niệm hóa một điều gì đó trong phạm vi một nền văn hóa. Các nhà dấu hiệu học theo truyền thống Saussure xem quan hệ giữa tự nhiên và văn hóa là sự độc đoán một cách tương đối (Lévi-Strauss 1972, 90, 95). Đối với Barthes, thần thoại phục vụ chức năng ý thức hệ của việc tự nhiên hóa (naturalization) (Barthes 1977, 45-6). Chức năng của chúng là tự nhiên hóa văn hóa- nói cách khác, là tạo giá trị cho văn hóa và lịch sử đang thống trị, thái độ và đức tin dường như là hoàn toàn “tự nhiên”, “bình thường”, tự-chứng, vô thời, “lương thức” hiển nhiên – và vì thế “khách quan” và phản ảnh “sự thực” về “cách mà sự vật vận hành”. Các nhà xã hội học đương thời lý luận rằng các nhóm xã hội có xu hướng xem bất cứ thứ gì tự phong quyền ưu tiên và quyền uy đều “mang tính tự nhiên”. Barthes xem thần thoại như phục vụ cho những quan tâm ý thức hệ giai cấp tư sản. “Ý thức hệ giai cấp tư sản…chuyển văn hóa thành tự nhiên” ông tuyên bố (Barthes 1974, 206). George Lakoff và Mark Johnson nêu bật đặc tính then chốt của thần thoại về chủ nghĩa khách quan thống trị và lan tỏa khắp văn hóa châu Âu – một chuyện thần thoại liên kết chính nó với sự thật khoa học, hợp lý, chính xác, công bằng và vô tư và nó được phản ảnh trong hàm ngôn khoa học, luật pháp, chính phủ, báo chí, đạo đức, kinh doanh, kinh tế và học thuật (Lakoff & Johnson 1980, 188-9). Các thần thoại có thể giấu chức năng ý thức hệ của dấu hiệu và mật mã. Sức mạnh những thần thoại như thế là chúng “hiển nhiên khỏi cần nói” và vì thế xuất hiện không cần phải giải mã, diễn giải hay làm sáng tỏ.
Những khác biệt giữa ba trật tự tạo nghĩa không rõ ràng, nhưng để sử dụng cho mục đích mô tả và phân tích, vài nhà lý thuyết phân biệt chúng dọc theo những đường sau. Trật tự tạo nghĩa (nghĩa thô) thứ nhất (hay mức) tạo nghĩa được hiểu như biểu đạt cơ bản và tự-chứa (self-contained) một cách tương đối. Trật tự tạo nghĩa (nghĩa khéo) thứ hai phản ảnh giá trị “biểu lộ” được dán vào một dấu hiệu. Trong trật tự tạo nghĩa (thần thoại học và ý thức hệ), dấu hiệu phản ảnh các khái niệm văn hóa khác nhau chính chống đỡ thế giới quan cụ thể - như giống đực, giống cái, tự do, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa khách quan, tính Anh, vân vân. Susan Hayward đưa ra ví dụ hữu ích về ba trật tự tạo nghĩa liên quan đến một bức ảnh của Marilyn Monroe:
Ở mức nghĩa thô, đây là bức ảnh ngôi sao màn bạc Marilyn Monroe. Ở mức nghĩa khéo, chúng ta kết hợp bức ảnh này với phẩm chất sao quyến rũ, gợi cảm, đẹp của Marilyn Monroe – nếu đây là bức ảnh mới đây – nhưng cũng với sự suy sụp, dùng ma túy và yểu mệnh nếu nó là một trong những bức ảnh cuối cùng của cô ta. Ở mức thần thoại, chúng ta hiểu dấu hiệu này như kích hoạt thần thoại của Hollywood: xưởng mơ (dream factory) sản xuất nét quyến rũ trong hình thức các sao được biên tập, nhưng cũng chính những chiếc máy mơ (dream machine) đó có thể vắt kiệt họ - mọi thứ, theo quan điểm lợi nhuận và thiết thực (Hayward 1996, 310).

Phân tích dấu hiệu học văn hóa thần thoại bao gồm nỗ lực giải cấu trúc các cách mà trong đó mật mã hoạt động trong phạm vi các văn bản phổ biến cụ thể hoặc các thể loại (genre), với mục đích phát hiện các giá trị xác định, thái độ và đức tin được khuyến khích trong khi những thứ khác bị hạn chế như thế nào. Nhiệm vụ “biến tính hóa”( denaturalization) những giả định văn hóa như thế rất khó khi nhà dấu hiệu học cũng là một sản phẩm của cùng nền văn hóa, vì tư cách hội viên của nền văn hóa bao gồm “chấp nhận” nhiều ý tưởng thống trị của nó. Tuy nhiên, khi chúng ta cố gắng phân tích văn hóa của riêng mình theo cách này thì điều chính yếu là cố gắng dứt khoát trở thành phản thân về “những giá trị “của riêng mình”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét