Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

HỆ BIẾN HÓA VÀ NGỮ ĐOẠN.

HỆ BIẾN HÓA VÀ NGỮ ĐOẠN

Dấu hiệu học hẳn được biết đến nhiều nhất vì cách tiếp cận phân tích nguyên bản, trong hình thức này, nó có đặc trưng liên quan đến phân tích cấu trúc. Phân tích dấu hiệu học cấu trúc bao gồm việc nhận dạng các đơn vị kiến tạo của hệ thống dấu hiệu (như văn bản hay thực tế văn hóa-xã hội), và quan hệ cấu trúc giữa chúng (đối lập, tương quan và quan hệ logic).

Saussure đã đề cập riêng biệt 3 loại quan hệ hệ thống:

- giữa kí hiệu và thụ hiệu
- giữa dấu hiệu và tất thảy những yếu tố trong hệ thống
- giữa dấu hiệu và những yếu tố bao quanh nó trong giới hạn một trường hợp tạo nghĩa cụ thể (Silverman 1983, 10).

Ông nhấn mạnh rằng nghĩa nảy sinh từ khác biệt giữa các kí hiệu, khác biệt này thuộc 2 loại: ngữ đoạn (symtagmatic) – liên quan vị trí, và hệ biến hóa (paradigmatic) – liên quan việc thay thế. Ông goi cái sau là quan hệ kết hợp (associative) (Saussure 1983, 121; Saussure 1974, 122). Tuy nhiên, bây giờ người ta sử dụng thuật ngữ của Roman Jackobson. Tương phản là chìa khóa số một trong phân tích cấu trúc dấu hiệu học. Hai chiều kích này thường được biểu diễn bằng “trục”, trục hoành là ngữ đoạn, trục tung là hệ biến hóa. Chiều ngữ đoạn là sự kết hợp của “đây-và-đây-và-đây” (như trong câu “người đàn ông khóc”). Chiều biến hóa là chọn lựa đây-hoặc-đây-hoặc-đây (ví dụ cùng câu trên, thay từ cuối bằng “chết” hoặc “hát”). Trong khi quan hệ ngữ đoạn là khả năng kết nối, thì quan hệ biến hóa là tương phản về chức năng – chúng bao hàm sự khác biệt. Tạm thời thì quan hệ ngữ đoạn qui về những kí hiệu khác cùng tồn tại trong phạm vi văn bản, quan hệ biến hóa qui về trung gian văn bản những kí hiệu vắng mặt trong văn bản (Saussure 1983, 122; Saussure 1974, 123). Giá trị dấu hiệu được quyết định bởi quan hệ biến hóa lẫn ngữ đoạn. Ngữ đoạn và biến hóa cung cấp ngữ cảnh có cấu trúc trong phạm vi tạo ý thức của dấu hiệu. Chúng là hình thức cấu trúc qua đó dấu hiệu được mã hóa.


Quan hệ biến hóa có thể hoạt động ở mức kí hiệu, thụ hiệu hay cả 2 (Saussure 1983, 121-124;Saussure 1974, 123-126; Silverman 1983, 10; Harris 1987, 124). Một hệ biến hóa là một tập hợp các kí hiệu hay thụ hiệu kết hợp lại thành những bộ phận một phạm trù xác định nào đó, nhưng mỗi chúng biểu nghĩa khác nhau. Trong ngôn ngữ tự nhiên có những hệ biến hóa ngữ pháp như động từ và danh từ. “Quan hệ biến hóa là những quan hệ thuộc về cùng một tập hợp bởi ưu điểm chức năng mà chúng chia sẻ…Một dấu hiệu đi vào quan hệ biến hóa với tất thảy những dấu hiệu nào có thể xuất hiện trong cùng một ngữ cảnh, nhưng không đồng thời" (Langholz Leymore 1975, 8). Trong ngữ cảnh được cho, một bộ phận của tập hợp biến hóa có thể được thay thế bằng bộ phận khác. “Các dấu hiệu nằm trong quan hệ biến hóa khi việc chọn lựa chúng là loại trừ nhau” (Silverman & Torode 1980, 255). Việc thiên về sử dụng một ki hiệu nào đó(vd: một từ hay một trang phục) trong cùng một tập hợp biến hóa (vd: một cách tách biệt, tính từ và chiếc nón) định hình ý nghĩa tham chiếu của văn bản. Quan hệ biến hóa có thể hiểu như để “nêu bật tương phản”. Lưu ý rằng tạo nghĩa do khác biệt giữa những kí hiệu đồng nghĩa một cách hiển nhiên là trọng tâm lý thuyết ngôn ngữ phái Whorfian. Lưu ý của Saussure về “quan hệ kết hợp”rộng ít chính thức hơn điều mà quan hệ biến hóa thường chỉ đến. Ông qui về “sự kết hợp tinh thần”và bao gồm luôn nét tương tự về hình thức (phát âm như nhau với những từ khác nhau, vd: “sea”và “see”) hoặc nghĩa (vd: từ đồng nghĩa). Những nét tương tự như thế, trật tự hoặc vô trật tự, từ chắc đến mảnh và có thể qui về một phần của từ (vd: tiền tố hoặc hậu tố). Ông lưu ý không có kết thúc (hay trật tự được thỏa hiệp) đối với những kết hợp như thế (Saussure 1983, 121-124; Saussure 1974, 123-126).

Trong phim ảnh và truyền hình, hệ biến hóa bao gồm các cách thay đổi cảnh quay (như “cắt”, “dẫn cảnh”, “bật sáng” và “hủy”). Trung gian hoặc thể loại cũng là hệ biến hóa, và các văn bản trung gian riêng biệt thừa kế nghĩa từ cách mà trung gian và thể loại được sử dụng khác với cái được chọn lựa. Cách ngôn của Marsall Mc Luban (1911-80) “trung gian là thông điệp”có thể vì thế được hiểu như phản ảnh mối liên hệ dấu hiệu học: đối với nhà dấu hiệu học thì trung gian không “trung hòa”.


Ngữ đoạn là kết nối có trật tự giữa các tương tác kí hiệu hình thành toàn bộ ý nghĩa của văn bản – đôi khi gọi theo Sausure là “chuỗi”. Kết nối như thế tạo ra trong phạm vi cơ cấu những qui tắc và qui ước cú pháp (rõ ràng hoặc không). Trong ngôn ngữ, một câu chẳng hạn, là một ngữ đoạn của từ, của đoạn và chương. “Luôn có những đơn vị lớn hơn, được biên soạn từ những đơn vị nhỏ hơn, trong quan hệ tương thuộc kiềm giữ giữa chúng” (Saussure 1983, 127; Saussure 1974, 128). Ngữ đoạn có thể bao hàm những ngữ đoạn khác. Một mục in quảng cáo là một ngữ đoạn của những kí hiệu hữu hình. Các quan hệ ngữ đoạn là các cách khác nhau trong đó các yếu tố trong cùng một văn bản có thể liên hệ với nhau. Ngữ đoạn được sáng tạo bằng kết nối giữa các kí hiệu theo chiều hướng biến hóa được chọn trên cơ sở chúng được xem như qui ước hay do đòi hỏi của hệ thống qui tắc (vd: văn phạm).Quan hệ ngữ đoạn nêu bật tầm quan trọng của bộ phận so với toàn thể. Saussure nhấn mạnh “cái toàn thể phụ thuộc vào bộ phận, và bộ phận phụ thuộc vào cái toàn thể”(Saussure 1983, 126; Saussure 1974, 128).


Ngữ đoạn thường được xác định như “tính liên tục”(vì thế gắn liền với thời gian – như nói và âm nhạc), nhưng chúng có thể biểu đạt quan hệ về không gian. Chính Saussure (đã từng nhấn mạnh “kí hiệu âm” được “biểu đạt cái nọ sau cái kia” và “tạo thành chuỗi”) lưu ý kí hiệu hình (ông ví dụ cờ hàng hải) “có thể đồng thời khai thác nhiều hơn một chiều kích” (Saussure 1983, 70; Saussure 1974, 70). Quan hệ ngữ đoạn không gian được thiết lập trong vẽ phác họa, hội họa và nhiếp ảnh. Nhiều hệ thống dấu hiệu học – như kịch nghệ, xi-nê, truyền hình và đa phương tiện của Internet – bao gồm cả ngữ đoạn không gian và thời gian.

Thwaites et al. lý luận rằng, trong phạm vi một thể loại, khi chiều kích ngữ đoạn là cấu trúc nguyên bản, thì chiều kích biến hóa có thể rộng ra với việc chọn lựa chủ đề (Thwaites et al. 1994, 95). Trong chiếc khung này, hình thức là chiều kích ngữ đoạn, trong khi nội dung là chiều kích biến hóa. Tuy nhiên, hình thức cũng tùy vào sự chọn lựa hệ biến hóa và nội dung thì tùy việc sắp xếp ngữ đoạn.

Jonathan Culler đưa ra ví dụ quan hệ ngữ đoạn và tương phản hệ biến hóa gộp trong thực đơn phương Tây sau:

Trong hệ thống thực phẩm…ta có thể xác định trên trục ngữ đoạn những kết hợp các món có thể làm thành một bữa ăn gồm nhiều loại khác nhau, và mỗi món ăn hoặc vị trí có thể được lắp đầy bởi một trong số những chiếc đĩa trong tương phản hệ biến hóa với hệ biến hóa khác (ta không kết hợp thịt bò nướng với sườn cừu trong một bữa ăn đơn giản, chúng có thể thay thế nhau trong bất cứ thực đơn nào). Những chiếc đĩa này, tuần tự hết cái này đến cái nọ thường có ý nghĩa khác nhau về mức độ xa xỉ, tao nhã mà chúng bao hàm, vv (Culler 1985, 104).


Roland Barthes (1967) đã phác họa các yếu tố hệ biến hóa và ngữ đoạn của “hệ thống hàng may mặc”trong những thuật ngữ tương tự. Các yếu tố hệ ngữ đoạn là những khoản không thề đồng thời mặc vào cùng một phần cơ thể (như nón, quần, giầy). Chiều kích ngữ đoạn là những yếu tố khác biệt kề cận nhau, đồng thời trong một tổng thể từ nón đến giầy.


Mở rộng ví dụ của David Lodge, Susan Spiggle giải thích chi tiết hơn làm thế nào điều trên có thể áp dụng cho một cô gái mặc áo phông, quần jean và dép xăng-đan:

1. Cô ta chọn dấu hiệu từ 3 hệ biến hóa (vd: tập hợp những dấu hiệu có thể - trang phục cho bộ phận cao hoặc thấp hơn, và giày dép). Mỗi hệ biến hóa chứa đựng tập hợp các mẫu có khả năng mà cô ta chỉ có thể chọn một.Từ hệ-biến-hóa-trang-phục-phần-cao-hơn (kể cả áo choàng, áo phông, áo chùng, áo vệ sinh), cô ta sẽ chọn một. Các điều khoản này chia đều các cấu trúc, chức nằng, và/hoặc các thuộc ngữ. với những cái khác trong tập hợp: chúng liên hệ với một cái khác nữa trên cơ sở giống nhau. Cô ta sẽ chọn lựa thêm các khoản tương đồng với trang-phục-cho-phần-thấp-hơn và hệ biến hóa giày dép. Hệ thống phân loại hoặc mật mã được xã hội xác định và chia sẻ việc định hình chọn lựa của cô ta.


2. Cô ta phối hợp các dấu hiệu được chọn qua các qui tắc (vd: áo phông không đi cùng giày cao gót, mà phải với dép xăng đan), gửi thông điệp qua ấn tượng chung – ngữ đoạn. Việc chọn lựa cần cô ta nhận thức sự giống nhau và đối lập giữa các dấu hiệu trong phạm vi tập hợp (hệ biến hóa), phân loại chúng thành các khoản có cùng chức năng và cấu trúc, cô ta chỉ cần một trong số đó. Cô ta có thể thay thế, hay chọn lựa, một áo choàng thay cho áo phông – đó là truyền đạt một thống điệp khác. Sự kết hợp áo-phông-quần jeans-dép-xăng-đan đòi hỏi cô phải biết các qui tắc mà qua đó trang phục được kết hợp một cách có thể chấp nhận được…Tóm lại, việc kết hợp …là, một loại câu (Lodge 1977, 74). Ngữ đoạn áo-phông-quần-jeans-dép-xăng-đan truyền đạt một ý nghĩa khác biệt (gửi một thông điệp khác biệt) ở những bãi biển hơn là vì lý do trang trọng (Spiggle 1998, 159).


Trong trường hợp phim ảnh, diễn giải một cảnh cá nhân phụ thuộc vào phân tích hệ biến hóa (so sánh, không nhất thiết có ý thức, với việc sử dụng những loại cảnh khác) lẫn phân tích ngữ đoạn (so sánh với cảnh trước và sau đó). Những cảnh như nhau được sử dụng trong phạm vi chuỗi cảnh quay khác có thể là cảnh hoàn toàn khác biệt nhưng người ta thích xem hơn. Thực ra thì ngữ đoạn phim ảnh không bị giam hãm trong những ngữ đoạn theo thời gian như thế (nó được biểu lộ trong dựng cảnh: chuỗi cảnh quay) nhưng bao hàm ngữ đoạn không gian được thiết lập cũng trong hình ảnh tĩnh (trong cái gọi là mise-en-scene: biên soạn những khung cảnh riêng biệt).

Phân tích ngữ đoạn lẫn hệ biến hóa đều cư xử với dấu hiệu như bộ phận của hệ thống – khảo sát chức năng của chúng với mật mã và mật mã phụ – chủ đề mà ta sẽ trở lại. Mặc dù chúng ta thảo luận về quan hệ ngữ đoạn và hệ biến hóa riêng biệt, cũng nên nhấn mạnh rằng phân tích dấu hiệu học một văn bản hoặc sao lục là phải xử lý hệ thống một cách toàn thể, và 2 chiếu kích không thể bị cách ly. Mô tả bất cứ hệ thống dấu hiệu nào cũng bao gồm cả việc định rõ số hội viên của tất thảy tập hợp hệ biến biến hóa có liên quan, cùng khả năng kết hợp một tập hợp với một tập hợp khác trong những ngữ đoạn đúng ngữ pháp. Để phân tích, theo Saussure (tập trung vào hệ thống ngôn ngữ một cách toàn thể), “hệ thống như cái toàn thể hợp nhất, là điểm khởi đầu của những khả năng, qua quá trình phân tích, để đồng nhất những yếu tố kiến tạo của nó", ta không thể cấu trúc hệ thống bằng cách phát triển lên từ những yếu tố kiến tạo (Saussure 1983, 112; Saussure 1974, 113). Tuy nhiên, Roland Barthes lý luận rằng “phần quan trọng trong nhiệm vụ của dấu hiệu học là chia văn bản thành những đơn vị tạo nghĩa nhỏ nhất…sau đó nhóm những đơn vị này thành những lớp hệ biến hóa, và cuối cùng là phân loại quan hệ ngữ đoạn kết nối chúng” (Barthes 1967, 48; cf. Langholz Leymore 1975, 21 and Lévi-Strauss 1972, 211). Trong thực tế, khi bắt đầu phân tích có thể cần xê dịch qua lại giữa 2 lối tiếp cận trên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét