Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

MÃ HÓA / GIẢI MÃ


Mà HÓA / GIẢI Mà

Các nhà dấu hiệu học cấu trúc có xu hướng tập trung vào nội cấu trúc của văn bản hơn là vào các quá trình bị lôi kéo trong cấu trúc hoặc diễn giải của nó. Nơi nào những hoạt động trong phạm vi truyền thống này tạo ra các lí thuyết vượt khỏi tầm văn bản thì nơi đó họ có xu hướng lí luận cho rằng truyền thông (đặc biệt là truyền thông đại chúng) là một quá trình cấu trúc hiện thực cơ bản và việc duy trì mà nhờ đó những địa vị bất bình đẳng, thống trị và lệ thuộc được sản sinh và tái sản sinh trong xã hội, đồng thời khiến chúng có vẻ “tự nhiên” hơn. Những nhà “Phê Bình Mới”, WK Wimsatt và MC Beardsley, khi chưa phải là những nhà cấu trúc, đã đề ra lí luận của những nhà hình thức, cho rằng ý nghĩa nằm trong phạm vi văn bản và được xác định như là “sai lầm cảm động”, ý niệm cho rằng nghĩa của một bài thơ phụ thuộc vào những phản ứng “chủ quan” của người đọc được họ xem như là “một sự rối loạn giữa thơ ca và thành quả của nó” (nó là gì và nó làm gì) (Wimsatt & Beardsley 1954, 21). Những điều khoản như thế có định hướng “quyết định luận nguyên bản”, với giả định rằng văn bản lúc nào cũng được đọc nhiều như những kẻ tạo ra chúng mong muốn, và để lại cơ hội nhỏ nhoi hoặc cho những mâu thuẫn trong phạm vi và giữa các văn bản, hoặc cho những biến thiên giữa những người diễn giải chúng. Những lí thuyết vững như bàn thạch về những thể loại này phớt lờ điều mà Saussure đã nhắc nhở, xem “vai trò của dấu hiệu là bộ phận của đời sống xã hội” (Saussure 1983, 15; Saussure 1974, 16).

Các nhà dấu hiệu học đương thời xem việc sáng tạo và diễn giải văn bản là “mã hóa” và “giải mã” một cách tách biệt. Không may là điều này có xu hướng khiến các quá trình có vẻ quá lệ thuộc vào chương trình: việc sử dụng những thuật ngữ này dĩ nhiên dành để nhấn mạnh tầm quan trọng của mật mã dấu hiệu học được bao hàm trong đó, và vì thế nêu bật các nhân tố xã hội. Đối với nhà dấu hiệu học, không có thông điệp không được giải mã, vì thế - không ai lí luận rằng mọi kinh nghiệm đều được viết bằng mật mã – thậm chí “mã hóa” có lẽ được mô tả một cách chính xác hơn là “tái mã hóa” (recoding) (Hawkes 1977, 104, 106, 107). Trong ngữ cảnh dấu hiệu học, “giải mã” không đơn giản bao gồm việc thừa nhận và lĩnh hội cơ bản điều mà một văn bản “nói”, mà là việc diễn giải và định giá ý nghĩa của nó cùng với việc tham chiếu đến những mật mã có liên quan. Nơi nào tạo nên sự khác biệt giữa việc lĩnh hội và việc diễn giải nơi đó cơ bản có xu hướng tham khảo văn bản lời nói thuần túy, nhưng thậm chí trong văn cảnh này khác biệt như thế là khó đứng vững; điều “muốn nói” lúc nào cũng hơn điều “được nói”(Smith 1988, Olson 1994). Các tham chiều hàng ngày đối với cộng đồng dựa trên mô hình “truyền dẫn” mà qua đó người gửi truyền một thông điệp đến người nhận – một cách thức nhằm giảm ý nghĩa đối với “nội dung” vốn được phân phối như một gói hàng (Reddy 1979). Đây chính là cơ sở của mô hình truyền thông nổi tiếng của Shannon và Weaver vốn không thừa nhận tầm quan trọng của văn cảnh và mật mã xã hội (Shannon and Weaver 1949).

Khi mô hình truyền đạt bằng lời của Saussure được liệt vào loại “mạch thoại” (speech circuit) một cách cách tân (trong thời đại đó) và bao gồm luôn những mũi tên trực tiếp chỉ sự lôi cuốn của cả hai người tham dự (do đó ít nhất có hàm ý “phản hồi”), tuy nhiên nó cũng là mô hình truyền dẫn tuyến tính (dù là mô hình “hai-rãnh”). Nó dựa trên ý niệm cho rằng việc bao hàm một phần thính giả là một loại gương phản ảnh quá trình biểu lộ tư tưởng ban đầu của người nói (Saussure 1983, 11-13; Saussure 1974, 11-13;Harris 1987, 22-25, 204-218). Trong mô hình này chỉ có quãng ngắn những ảo tưởng đối với việc sử dụng “mật mã cung cấp bởi ngôn ngữ của người phát ngôn”, cùng với giả định ngầm rằng mật mã ấn định đã được chia sẻ (Saussure 1983, 14; Saussure 1974, 14;Harris 1987, 216, 230).


Năm 1960, một nhà ngôn ngữ học cấu trúc – Roman Jakobson (nhờ công trình của Buhler có từ những năm 1930) – đề nghị một mô hình truyền thông bằng lời giữa các cá thể vượt xa mô hình truyền dẫn cơ bản và nêu bật được tầm quan trọng của mật mã và ngữ cảnh xã hội có liên quan (Jakobson 1960). Ông lưu ý ở đâu đó rằng “hiệu quả của một sự kiện được diễn đạt bằng lời đòi hỏi phải sử dụng mật mã thông thường bởi những người dự phần” (Jakobson & Halle 1956, 72). Ông phác họa những gì ông xem như là “sáu nhân tố kiến tạo…trong bất cứ hành động truyền thông bằng lời nào”:

Người gửi gửi một thông điệp đến người nhận. Để hoạt động thông điệp cần một ngữ cảnh được tham chiếu (“tham chiếu” một thứ khác, có phần nước đôi, danh pháp), người nhận có thể thấu hiểu, hoặc bằng lời hoặc có khả năng được diễn đạt bằng lời, một mật mã đầy đủ, hoặc ít nhất một phần, phổ biến đối với người gửi và người nhận ( nói cách khác, đối với người mã hóa và người giải mã thông điệp); và cuối cùng, một sự tiếp xúc, một kênh vật lí và mối nối tâm lí giữa người gửi và người nhận, cho phép cả hai giữ liên lạc với nhau (Jakobson 1960, 353).

Jakobson đề nghị rằng “mỗi trong sáu nhân tố này quyết định chức năng khác biệt của ngôn ngữ” (ibid.):

Mô hình này tránh việc giản hóa ngôn ngữ thành “truyền thông”. Nội dung tham chiếu không phải lúc nào cũng được đề cao. Jakobson lí luận rằng trong bất cứ trường hợp được cho nào thì một trong sáu nhân tố này sẽ thống trị, và chức năng thống trị này ảnh hưởng đến đặc tính chung của “thông điệp”. Chẳng hạn, chức năng thơ ca (dùng để chỉ bất cứ việc sử dụng ngôn ngữ mang tính sáng tạo nào, hơn là đơn giản chỉ là thơ ca) nêu bật “tính chất hiển nhiên của dấu hiệu”, hủy hoại bất cứ ý thức về mối liên hệ mang tính “tự nhiên” hoặc “hiển nhiên” nào giữa kí hiệu và tham chiếu. Mô hình Jakobson chứng minh rằng thông điệp và ý nghĩa không thể bị cách li khỏi các nhân tố nguyên bản kiến tạo nên chúng. Trong việc thừa nhận các chức năng xã hội của nó thì đây là mô hình phù hợp với lí thuyết của những nhà cấu trúc, cho rằng chủ thể (ở đây là trong hình thức “người gửi” và “người nhận”) được cấu trúc qua diễn ngôn.

Khi những mô hình sớm hơn này đề cập đến truyền thông giữa các cá thể trong tiểu luận về “Mã hóa/Giải mã” (Hall 1980, xuất bản lần đầu là “Mã hóa và Giải mã trong hàm ngôn truyền hình” năm 1973), thì nhà xã hội học Anh Stuart Hall đã đề nghị một mô hình truyền thông đại chúng nêu bật tầm quan trọng của việc diễn giải tích cực trong phạm vi các mật mã có liên quan. Justin Wren-Lewis thì khăng khăng rằng mô hình Hall mà nó nhấn mạnh đến việc mã hóa và giải mã như là những thực hành tạo nghĩa, là “trên hết, và là nhận thức mang tính dấu hiệu học” (Wren-Lewis 1983, 179). Hall bác bỏ quyết định luận nguyên bản, và lưu ý rằng “việc giải mã không hẳn phải theo sau việc mã hóa” (Hall 1980, 136). Như thế, tương phản với các mô hình trước đó, Hall đã trao cho “người giải mã” cũng như “người mã hóa” vai trò tạo nghĩa.

Hình ảnh này đã được thu nhỏ lại. Hãy click vào đây để xem hình gốc. Kích thước gốc là 730x244. 

Hall qui các pha trong mô hình Mã hóa/Giải mã của truyền thông thành những khoảnh khắc, một thuật ngữ mà nhiều nhà bình luận khác đã sử dụng sau đó (thường không có giải thích). John Corner đưa ra những định nghĩa riêng như sau:

- Khoảnh khắc mã hóa: là “những thực hành kiến tạo và những điều kiện tổ chức, cùng những thực hành sản xuất” (Corner 1983, 266);

- Khoảnh khắc văn bản: “là …cấu trúc, sắp xếp mang tính biểu tượng, có thể cả việc thực hiện…Hình thức và nội dung của những gì được xuất bản và phát tán” (ibid., 267); và:

- Khoảnh khác giải mã: là “khoảnh khắc tiếp nhận (hoặc) tiêu thụ…của…người đọc/người nghe/người nhìn” được các nhà lí thuyết đánh giá như “tiến gần đến hình thức “cấu trúc” hơn là “sự bị động…được gợi ý từ thuật ngữ “nhận thức” (ibid.). 

Chính Halll đã qui nhiều “khoảnh khắc được liên kết nhưng khác biệt – sản sinh, lưu hành, phân phối/tiêu thụ, tái sản xuất”(Hall 1980, 128), thành một phần của “mạch truyền thông” (thuật ngữ cố nhiên báo hiệu về di sản của Saussure). Corner thêm rằng khoảnh khắc mã hóa và khoảnh khắc giải mã là “những thực tế ngẫu nhiên về mặt xã hội có thể có những mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn kết nối chúng lại với nhau song chắc chắn người ta không nghĩ về chúng…như việc “gửi” và “nhận” được kết nối bằng cách chuyển vận “thông điệp” vốn được xem như phương tiện duy nhất của nghĩa”(Corner 1983, pp. 267-8).

Mật mã phương tiện truyền thông đại chúng cung cấp cho độc giả những nhân dạng xã hội mà một số người có thể thừa nhận là của chính họ. Nhưng độc giả không nhất thiết phải chấp nhận những mật mã như thế. Nơi những mật mã đó có liên quan đến việc truyền thông không chia sẻ mật mã chung và địa vị xã hội thì việc giải mã có khả năng khác biệt với ý nghĩa mong muốn của người mã hóa.Umberto Eco sử dụng thuật ngữ “giải mã lầm lạc” để chỉ những văn bản được giải mã bằng phương tiện một mật mã khác đã được sử dụng để mã hóa nó”(Eco 1965). Eco mô tả những mật mã này là “khép kín”, chúng chứng tỏ một xu hướng bền vững nhằm khuyến khích các diễn giải riêng biệt - tương phản với những văn bản “mở” hơn (Eco 1981). Ông lí luận rằng các văn bản truyền thông đại chúng có xu hướng trở thành “văn bản khép kín”, và vì chúng là truyền thông rộng cho những khán giả hổn tạp nên việc giải mã đa dạng những văn bản này là tất yếu.

Stuart Hall nhấn mạnh vai trò của quan điểm xã hội trong việc diễn giải những văn bản truyền thông đại chúng bởi các nhóm xã hội. Trong mô hình bắt nguồn từ “các hệ thống nghĩa”của Frank Parkin, Hall đã đề nghị ba mật mã hoặc quan điểm diễn giải mang tính giả thuyết cho độc giả của một văn bản (Parkin 1972; Hall 1973; Hall 1980, 136-8; Morley 1980, 20-21, 134-7; Morley 1981b, 51;Morley 1983, 109-10):

- Đọc bao quát (hay “chủ đạo”): độc giả chia sẻ đầy đủ mật mã văn bản, thừa nhận và tái sản sinh việc đọc ưu tiên (việc đọc này không hẳn là kết quả của bất cứ chú ý về bất cứ phần nào của (các) tác giả) – với quan điểm như thế thì mật mã có vẻ “tự nhiên” và “hiển nhiên” hơn.

- Đọc theo lối dàn xếp: độc giả chia sẻ từng phần mật mã văn bản và thừa nhận một cách chung chung việc đọc ưu tiên, nhưng đôi khi họ cũng chống và sửa đổi nó bằng cách phản ảnh địa vị, kinh nghiệm và quan tâm riêng của họ (những điều kiện địa phương và cá nhân có thể hiểu như là những ngoại lệ đối với qui tắc chung) – quan điểm này bao hàm nhiều mâu thuẫn.

- Đọc theo lối đối lập (hay “chống-chủ đạo”): độc giả mà hoàn cảnh xã hội của họ đặt họ tương quan đối lập trực tiếp đến mật mã chủ đạo, sẽ hiểu việc đọc ưu tiên nhưng không chia sẻ mật mã văn bản và loại bỏ việc đọc này, dẫn đến việc chấp nhận một cơ cấu tham chiếu khác (cấp tiến, nữ quyền .vv.) (vd: khi xem một chương trình truyền hình đại chúng được sản xuất nhân danh một đảng chính trị, họ thường bỏ phiếu “chống”).

Cơ cấu này dựa trên giả định rằng ý nghĩa tiềm tàng của văn bản được mã hóa trong mật mã chủ đạo. Đây là lập trường có xu hưóng cụ thể hóa trung gian và giảm nhẹ những xu hướng đang xung đột trong phạm vi các văn bản. Một số nhà phê bình cũng đã nêu câu hỏi làm thế nào việc “đọc ưu tiên” có thể được thiết lập. Shaun Moores đặt câu hỏi “Nó ở đâu và làm thế nào chúng ta biết nếu chúng ta tìm được nó? Chúng ta có thể đảm bảo rằng chính chúng ta không diễn đạt nó ở đó trong khi chúng ta đang tìm kiếm nó? Và có thể được tìm thấy nó bằng cách khảo sát bất cứ loại văn bản nào không?”(Moores 1993, 28). Một số nhà lí thuyết cảm nhận rằng khái niệm này có thể được áp dụng dễ dàng hơn đối với tin tức và công việc hiện hành, hơn là các thể loại truyền thông đại chúng khác. David Morley tự hỏi liệu việc đọc mà nhà phân tích đang tiên đoán có thể hầu hết các thành viên là khán giả sẽ sản sinh ra nó”(Morley 1981a, 6). John Corner lí luận rằng không dễ tìm những ví dụ thực tế về các văn bản truyền thông đại chúng mà trong đó cách đọc được ưu tiên trong phạm vi số nhiều của những cách đọc khả dĩ (Corner 1983, 279). Như Justin Wren-Lewis bình luận “sự kiện nhiều nhà giải mã sẽ đat được cùng một cách đọc không làm cho ý nghĩa trở thành một bộ phận chính yếu của văn bản (Wren-Lewis 1983, 184). Và Kathy Myers lưu ý, trong tinh thần dấu hiệu học xã hội của những nhà cấu trúc, rằng “nó có thể khiến việc tìm kiếm quyết định việc đọc theo ưu tiên đơn độc trong phạm vi và hình thức cấu trúc của văn bản trở nên sai lạc”(Myers 1983, 216). Hơn nữa, trong ngữ cảnh quảng cáo, bà ta thêm rằng:

Tồn tại mối nguy hiểm trong phân tích việc quảng cáo cho giả định rằng chính sự quan tâm của người quảng cáo nhằm tạo một cách đọc “ưu tiên”thông điệp của quảng cáo đó. Chủ ý rằng những thao tác, tổ chức văn bản cùng hình ảnh có ý thức, và hàm ý rằng những chiến lược mang tính thị giác, kĩ thuật và ngôn ngữ học làm việc cùng nhau nhằm đạt được cách đọc ưu tiên một chương trình quảng cáo hơn là loại trừ những cách đọc khác…Việc mở rộng những mật mã nghĩa khéo có thể có nghĩa rằng chúng ta phải thay thế ý niệm “đọc ưu tiên” bằng một cách đọc khác cho phép nhiều lựa chọn khả dĩ mở ra cho khán giả (Myers 1983, 214-16).

Như việc đọc rút gọn của mô hình Hall có thể dẫn đến vật chất hóa một trung gian hoặc thể loại, nó cũng khuyến khích bản chất hóa của đọc giả (vd như “đọc giả đề kháng”), trong khi các quan điểm đọc lại là “đa hình thức, chia chẻ, phân tâm, phát triển mất cân đối, gián đoạn một cách văn hóa, tản mạn và mang tính chính trị, hình thành nên một phần của một lĩnh vực khác biệt đang phân nhánh và thay đổi, và nhiều mâu thuẫn” (Stam 2000, 233).

Bất chấp những lời phê bình , mô hình Hall đã có nhiều ảnh hưởng, đặc biệt với những nhà lí thuyết Anh, David Morley sử dụng nó trong nghiên cứu của ông về cách làm thế nào các nhóm xã hội khác nhau diễn giải một chương trình truyền hình (Morley 1980). Morley khăng khăng rằng ông không lấy quan điểm của người theo thuyết định mệnh xã hội mà qua đó việc “giải mã”văn bản của cá thể được giản hóa về hệ quả trực tiếp của một quan điểm mang tính tầng lớp xã hội. “Đó luôn là vấn đề làm thế nào một quan điểm xã hội, như nó được khớp nối qua các hàm ngôn riêng biệt, sản sinh những cách đọc hay giải mã đặc biệt. Những cách đọc này sau đó có thể hiểu là được trang trí bằng cách mà cấu trúc truy cập vào những hàm ngôn khác nhau của nó được quyết định bởi quan điểm xã hội” (Morley 1983, 113; cf.Morley 1992, 89-90). Quan điểm của Morley về việc truy cập có tính phân biệt vào các hàm ngôn có thể liên quan đến nhiều loại “tư bản” được phác họa bởi Pierre Bourdieu – đặc biệt là “tư bản văn hóa”(mà Bourdieu đã liên hệ đến cấu trúc của “vị giác”) và “tư bản biểu tượng” (vốn tiết mục của cộng đồng). Một “vốn tiết mục trình diễn”(Jonathan Potter, cited in Grayson 1998, 40) là một phần tư bản biểu tượng của các thành viên “cộng đồng trình diễn”thích hợp và kiến tạo nên mật mã nguyên bản cũng như diễn giải khả dĩ đối với họ (cung cấp cho họ tiềm năng để hiểu và đôi khi cũng để sản sinh các văn bản vốn sử dụng chúng). Morley thêm rằng bất cứ cá thể hoặc nhóm nào cũng có thể vận hành những chiến lược giải mã khác nhau tương quan với những chủ đề và văn cảnh khác nhau. Một người có thể tạo nên những cách đọc “đối lập”về cùng một tài liệu chỉ trong một văn cảnh và đọc “chủ đạo” trong những văn cảnh khác (Morley 1981a, 9; Morley 1981b, 66, 67; Morley 1992, 135). Ông lưu ý rằng những văn bản truyền thông đại chúng nên được trả không chỉ về điều khoản thỏa thuận (chấp nhận/loại trừ) mà còn về sự lĩnh hội, tính xác đáng và sự hứng thú (Morley 1981a, 10; Morley 1992, 126-7, 136).

Việc người sử dụng diễn giải các dấu hiệu có thể được hiểu từ viễn cảnh dấu hiệu học ở ba mức sau (có chút liên hệ đến cơ cấu của C W Morris về các chi nhánh dấu hiệu học):

- cú pháp: thừa nhận về dấu hiệu (tương quan với những dấu hiệu khác).

- ngữ nghĩa: lĩnh hội chủ ý của dấu hiệu.

- thực dụng: diễn giải dấu hiệu sao cho xác đáng, tán đồng .vv. (See also Goldsmith 1984, 124, although she makes different distinctions).

Công việc diễn giải cơ bản nhất bao gồm nhận dạng những gì một dấu hiệu biểu đạt (nghĩa thô) và có thể đòi hỏi một mức độ quen thuộc cùng với trung gian và mật mã biểu đạt bao gồm trong đó. Điều này là đặc biệt rõ trong trường hợp ngôn ngữ, nhưng cũng có thể áp dụng trong trường hợp là các trung gian thị giác như phim ảnh. Một số không xem quá trình mức-thấp này mang nhãn hiệu “diễn giải” chút nào, giới hạn thuật ngữ này vào các quá trình như trích dẫn một “lời răn” từ văn bản tường thuật. Tuy nhiên, David Mick và Laura Politi lấy lập trường xem việc lĩnh hội và diễn giải là không thể tách biệt, tạo nên tính tương tự với nghĩa thô và nghĩa khéo (Mick & Politi 1989, 85).

Justin Wren-Lewis bình luận rằng “dù việc sử dụng công cụ dấu hiệu học để phân tích phim ảnh và truyền hình được cung cấp vật chất dồi dào, điều đáng ghi nhận là quá ít việc được thực hiện trong thực tế giải mã” (Wren-Lewis 1983, 195). Trong khi dấu hiệu học xã hội bám giữ yêu sách về nghiên cứu các thực hành dấu hiệu học tình huống, thì nghiên cứu lĩnh vực này được chủ đạo bởi các phương pháp luận mang tinh dân tộc và hiện tượng và ít khi liên hiệp chặt chẽ với viễn cảnh dấu hiệu học (mặc dù không có xung khắc cần thiết). Một ngoại lệ đáng chú ý là nghiên cứu của David Mick trong lĩnh vực quảng cáo (Mick & Politi 1989, McQuarrie & Mick 1992, Mick & Buhl 1992).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét